🏠 Trang Chủ

Thoát Khỏi Đảo Hoa Hồng - Chương 55 👁️ 0

⏮️ ◀ ▶
🎨 Tùy Chỉnh Phông Chữ & Giao Diện
18px

Thật ra khu rừng này không phải nơi quá an toàn.

Màn sương dày đặc nơi đây quấn lấy không biết bao nhiêu linh hồn vẫn chưa thể yên nghỉ.

Trên bản đồ chỉ dẫn của núi Bàn Sơn chưa từng đánh dấu nơi này. Khách lưu trú bình thường sẽ không đặt chân tới, cũng chẳng hiểu vì sao mà nhân viên khu nghỉ dưỡng đều kiêng kỵ nó.

Ngay cả xe tham quan khi đi ngang qua đây, tài xế cũng sẽ đạp ga lao vút qua. Thỉnh thoảng vì có việc bất đắc dĩ phải dừng bên ngoài khu rừng, tài xế sẽ hiện rõ vẻ mất kiên nhẫn trên mặt, chỉ cần có thể đi tiếp là lập tức phóng xe rời đi tít bụi mù.

Không ai trông chờ một đứa trẻ đầu óc đần độn có thể sống sót lâu dài trong khu rừng này.

Bà lão chỉ đang đánh cược.

Con búp bê bà đưa cho cô bé không cắm đinh bạc, không quấn chỉ gai trắng, mà những linh hồn trong rừng lại sợ búp bê.

Trong rừng có một căn nhà gỗ bỏ hoang đã nhiều năm.

Chủ nhân không rõ tung tích, mọi đồ vật bên trong đều phủ mùi bụi bặm, nhưng ít nhất vẫn có thể che mưa chắn gió.

Ngày thứ hai sau khi đẩy cô bé vào rừng, bà lão nhét đầy thức ăn vào một túi vải, lại đội mưa đến vào lúc nửa đêm. Bà không ở lại lâu, chỉ buộc chặt miệng túi rồi dùng hết sức ném nó vào khu rừng mịt mù sương trắng.

Ngày thứ ba, thứ tư, thứ năm...

Ngày nào cũng như vậy.

Lúc đầu, bà hoàn toàn không chắc chắn.

Không biết túi thức ăn ném vào rừng có được cô bé tìm thấy không? Để tránh chim hoang mổ mất, bà đã buộc nút túi rất chặt, cũng không biết con bé ngốc ấy có cởi ra nổi không?

Không biết cô bé... còn sống hay không.

Mãi đến hơn mười ngày sau, bà lão lại một lần nữa đội mưa đến đây. Bà đang định theo lệ cũ ném túi vải vào rừng, bỗng thấy trong màn sương sâu thẳm có một bóng đen nhỏ khẽ động đậy.

Bà lão giật mình.

Bà giống rất nhiều người ở núi Bàn Sơn, vốn dĩ đã sợ khu rừng này từ trong bản năng. Bà định vội vàng ném túi rồi quay người bỏ đi, nhưng lại cảm thấy có gì đó không đúng.

Bởi bóng đen ấy quá nhỏ, nhỏ giống hệt cô bé từng co ro ở cửa lên núi.

Bà lão nghi hoặc nhìn về phía bóng đen.

Giây tiếp theo, cô bé từng ôm cổ bà khi tắm đã phá tan màn sương chạy ào ra ngoài.

Bà lão xách đèn gió, đứng sững tại chỗ. Mãi đến khi cô bé túm lấy vạt áo bà, bà mới hoàn hồn.

Trong lòng bà cuộn lên rất nhiều cảm xúc, nhưng đã quá lâu rồi bà không có cảm giác xao động như vậy, nên cũng không biết phải gọi tên nó thế nào.

Là vui mừng sao?

Hình như còn lẫn cả chút may mắn và sợ hãi sau cơn hoảng hốt.

Thật kỳ lạ, bà và cô bé này quen nhau chưa đầy một tháng, số câu nói với nhau càng ít đến đáng thương, vậy mà bà đã bắt đầu không yên lòng vì nó.

Từng có người nói, có lẽ vì thành phố đảo mưa quanh năm, cũng chẳng biết trong nước mưa có thứ gì, những ai ở đây quá lâu đều đặc biệt dễ động lòng.

Dễ khóc, dễ cười, dễ buồn, cũng dễ giận.

So với họ, cảm xúc của cô bé lại ít hơn rất nhiều.

Lúc sợ sẽ rơi nước mắt, nhưng không khóc thành tiếng. Lúc vui sẽ khẽ dậm chân, nhưng không cười. Mỗi ngày đều ngoan ngoãn chờ trời tối, tìm một gốc cây để ngồi dựa vào. Cũng sẽ chạy tới níu lấy vạt áo bà lão mỗi khi bà mang thức ăn đến.

Nhưng ngoài những điều đó ra thì không còn gì nữa.

Cô bé mềm mại ngoan ngoãn như một chiếc bánh gạo trắng, nhưng lại không có thứ tình cảm quá sâu đậm.

Nó chỉ biết chờ đợi, chứ không biết lưu luyến.

Bà lão không hiểu vì sao, chỉ nghĩ đó là hậu quả của việc đầu óc cô bé vốn đã không được bình thường.

Nhưng Ngu Thanh, người đang cảm nhận tất cả bằng thân phận quỷ thần Họa Bì, lại biết rõ, cô bé vẫn chưa chết.

Đời người ngoài hiện thế của cô bé ở bên ngoài đảo thành vẫn chưa kết thúc, vẫn còn giữ được một hơi thở.

Có người không nỡ buông tay cô bé, dùng mọi cách cố chấp chờ cô bé trở về.

Trong rất nhiều năm qua, thỉnh thoảng vẫn có những người chưa chết vì đủ loại nguyên nhân mà lạc vào đây: hấp hối, hôn mê, hoặc đơn giản chỉ là tai nạn.

Những người này vì vẫn chưa thật sự thuộc về đảo thành, nên không thể, cũng không nên tạo ra mối liên hệ tình cảm quá sâu với đảo thành và những con người ở đây.

Điều đó sẽ bào mòn linh hồn của họ.

Có lẽ do cơ chế tự bảo vệ của linh hồn, những người như vậy bẩm sinh rất khó có cảm xúc mãnh liệt, cứ như bị một lớp màng dày ngăn cách chặt lấy linh hồn, không thể xuyên qua, không thể phá vỡ. Không yêu hận quá sâu, cũng chẳng lưu luyến điều gì.

Thế nhưng con người luôn có ngoại lệ.

Cô bé ở bên bà lão ngày một lâu hơn, có lẽ vì dần quen với cuộc sống trên núi nên trạng thái đờ đẫn ngu ngơ cũng khá lên nhiều, thậm chí còn có thể trò chuyện đơn giản với bà.

Từ chỗ lúc ăn chỉ ngồi dựa vào bà một lát, đến thường xuyên níu áo bà đi theo rất xa, rồi có một lần, sau khi bà vừa tết tóc cho cô bé xong, phủi cỏ trên người chuẩn bị quay về thung lũng, cô bé bỗng đặt đồ ăn xuống, chạy tới dang hai tay ra với bà.

Đó là động tác của một đứa trẻ muốn được bế.

Cô bé ngẩng mặt lên, nhẹ nhàng nói với bà:

“Bà ơi, cháu ngoan, không quậy đâu, chỉ ăn một chút thôi, cháu còn có thể ngủ dưới đất... Cháu có thể đi về cùng bà không?”

Hốc mắt bà lão lập tức đỏ hoe.

Bà không nỡ để đôi tay đang dang ra ấy không có người đón lấy, liền ôm cô bé vào lòng, xoa đầu nó mà nói:

“Ngọn núi này hỏng rồi, lễ tế cũng trở nên rất kỳ quái, năm nào cũng thiếu người... thiếu người lắm...” Bà khẽ thở dài, nhẹ giọng nói: “Nếu cháu theo bà về thung lũng, cháu sẽ không lớn được đâu.”

“Không lớn thì không lớn.”

Cô bé hoàn toàn không hiểu “không lớn được” nghĩa là gì, chỉ một lòng muốn ở bên bà lão.

“Như thế không được, phải lớn chứ.” Phải sống mãi, phải lớn lên xinh đẹp rạng rỡ.

Cô bé mơ mơ hồ hồ lại bướng bỉnh một cách cố chấp: “Không muốn.”

Bà lão nghĩ một lúc rồi nói:

“Phải lớn chứ, sau này bà già yếu không đi nổi còn trông cậy cháu giúp bà.”

“Giúp gì ạ?”

Sự chú ý của cô bé lập tức bị dắt đi mất.

Bà lão buông ôm, đổi thành nắm tay cô bé:

“Đi nào, bà dẫn cháu tới một nơi.”

Lúc ấy trời đã gần sáng. Lần này bà không còn đội mưa đi đường núi nữa, mà dẫn cô bé vòng vèo tiến vào một cái giếng cạn.

Chỗ ra vào giếng được lót đá, thuận tiện cho người chân tay không nhanh nhẹn và trẻ nhỏ lên xuống, vừa nhìn đã biết bà thường xuyên tới đây.

Dưới giếng là những đường hầm thông nhau khắp nơi, ngọn đèn gió lay động trong bóng tối.

Lần đầu tiên cô bé tới một nơi như vậy, suốt dọc đường đều ôm chặt cánh tay bà lão, giống hệt một con vật nhỏ quấn người.

Họ đi rất lâu, rất xa, cuối cùng cũng đến nơi có thể nghe thấy tiếng nước chảy.

Bà lão giơ ngọn đèn gió lên soi vào vách đá, nói với cô bé:

“Đợi đến khi cháu cao thêm một chút, có lẽ bà đã không đi nổi nữa, lúc đó cháu phải thay bà trông coi bức bích họa này.”

Cô bé ngẩng mặt lên.

Đối với cô bé mà nói, bức bích họa ấy quả thật rất cao, phải kiễng chân mới chạm được một phần. Cô bé hỏi bà: “Trên này vẽ gì vậy ạ?”

Bà lão đáp: “Là truyền thuyết xưa kia của ngọn núi này.”

Bà lão giơ đèn gió, nhìn nội dung trên bức bích họa rồi chậm rãi kể:

“Cháu nhìn này, trong bức tranh này, thuở ban đầu ngọn núi chưa có người sinh sống, nó nằm ở vị trí hơi chếch về phía đông, ngay giữa thành phố đảo, giống hệt trái tim trong cơ thể con người.”

“Trong núi không có người thì có gì ạ?”

Bà lão chỉ vào mặt đất đỏ thẫm trong bức tranh:

“Hoa hồng, vô số hoa hồng, nhiều lắm, nhiều đến mức nhìn mãi cũng không thấy điểm cuối.”

“Nhiều là bao nhiêu ạ?”

“Người ta nói nhiều chẳng khác gì số người trong đảo thành.”

Cô bé vốn không biết đảo thành có bao nhiêu người, trên mặt chỉ đầy vẻ mờ mịt.

“Rồi sau đó thì sao ạ? Hoa hồng đâu rồi?”

“Về sau luôn có người lạc vào núi, thế là tất cả hoa hồng đều tàn lụi rồi biến mất.”

Bức bích họa đã có quá nhiều chỗ bong tróc, loang lổ, nội dung không còn rõ ràng và liền mạch, nên lúc kể, bà lão chỉ có thể xen lẫn những điều mình từng nghe được, thật giả cũng không rõ.

“Sau đó, cả đảo thành không còn một bông hồng tươi nào nữa, chỉ còn loại hoa giả màu đỏ sẫm, thỉnh thoảng sẽ xuất hiện trong tang lễ, người ta nói nó tượng trưng cho cái chết, cũng tượng trưng cho sự yên nghỉ. Nhưng cũng chưa chắc đâu, dù sao thì, tờ báo lớn nhất còn tên là Nhật Báo Hoa Hồng cơ mà.”

Cô bé gần như chưa từng sống dưới chân núi, nên vẫn không hiểu đảo thành là gì, cũng chẳng hiểu Nhật Báo Hoa Hồng là gì.

Bà lão bèn tiếp tục kể theo bức bích họa:

“Sau này ngọn núi trở nên hoang vắng, lại có người đến định cư, dần dần hình thành một ngôi làng. Thế nhưng người trong làng lúc nào cũng chẳng sống được bao lâu...”

Những phần tiếp theo rất giống câu chuyện về sau lưu truyền ở núi Bàn Sơn, chỉ là trình tự đã có đôi chút thay đổi.

Cũng là lang y bó tay bất lực, vị tế sư định gieo mình xuống hồ làm vật hiến tế, mãi đến khi một vị thần trẻ tuổi bước vào núi, cứu sống tất cả mọi người.

Sau đó nữa, cây đào thay thế loài hoa hồng tượng trưng cho cái chết, rực rỡ lan tràn thành cả một rừng đào bạt ngàn.

“Là ai vẽ bức tranh này vậy ạ?”

Cô bé hỏi.

“Là những người từng chết rồi lại được cứu sống, từng nhát từng nhát khắc nên.”

Bà lão xoa đầu cô bé, giống như đang kể một bí mật cho cô nghe:

“Thật ra bà cũng giống cháu, một mình cô độc đến đây, rồi được người ta nhặt về trên núi. Người nhặt bà đã kể cho bà nghe những chuyện này, còn dặn rằng nhất định phải tu sửa bức bích họa này mỗi năm, từng nhát từng nhát một, bằng cả tấm lòng chân thành, như vậy mới có thể bày tỏ lòng biết ơn đối với vị thần ấy, để người núi Bàn Sơn như chúng ta... được phúc thọ dài lâu.”

Câu cuối cùng là do chính bà lão tự thêm vào.

Đầu óc cô bé vốn không nhanh nhẹn, nếu chỉ kể những chuyện thần thần quỷ quỷ ấy, e rằng sẽ chẳng nhớ nổi, nên bà mới cố tình thêm một câu như vậy.

Chỉ là khi nghĩ đến tình cảnh hiện giờ của núi Bàn Sơn, lúc nói ra câu ấy, bà vẫn không khỏi có chút chần chừ.

Thật ra bà cũng chẳng trông mong cô bé sẽ nhớ được bao nhiêu, nhớ được bao lâu, chỉ là cố tìm một lý do đủ sức thuyết phục để nói với cô rằng nhất định phải cố gắng lớn lên.

Ai ngờ cô bé lại gật đầu, ngoan ngoãn đáp:

“Vậy cháu sẽ cố gắng lớn, lớn thật nhanh.”

Cô bé vẫn tiếp tục sống trong khu rừng ấy, ngoan ngoãn nghe lời.

Ở lâu đến mức, cô thậm chí còn quen mặt cả những linh hồn trắng mờ như sương trong rừng.

Lúc đầu, chúng có phần sợ con búp bê của cô bé, cứ quanh quẩn bên ngoài căn nhà gỗ nhỏ, không dám đến quá gần để hút lấy cô.

Ban ngày cô bé không rời khỏi khu rừng.

Có lúc cô bé sẽ trò chuyện với những linh hồn ấy, hỏi họ từ đâu tới, vì sao cứ tụ tập trong rừng mà không chịu tan đi.

Cô bé còn kể với họ rằng khoảng thời gian mình thích nhất mỗi ngày chính là buổi tối, bởi vì bà sẽ đến gặp mình.

Ngày này qua ngày khác.

Mưa gió thế nào cũng vậy.

Chưa từng thất hứa.

Bà lão từng nói với cô một câu:

“Nếu có một đêm nào đó bà không đến được, thì nghĩa là bà đã không còn nữa. Dù thế nào cũng đừng đi tìm bà, đừng đến thung lũng, cũng đừng tin bất cứ lời nào của người khác.”

Chỉ duy nhất một điều bà quên không dặn cô.

Đó là:

“Đến lúc ấy phải chạy, phải rời khỏi nơi này, xuống dưới chân núi.”

Bà vẫn luôn cho rằng, gặp nguy hiểm thì bỏ chạy là bản năng của bất kỳ ai.

Chỉ cần không còn ai mang thức ăn đến nữa, cô bé đói đến mức không chịu nổi thì tự nhiên sẽ đổi sang nơi khác để tìm đường sống.

Bà cũng cho rằng, một bà lão không thân chẳng thích như mình sẽ không thể khiến một đứa trẻ ngây thơ chưa hiểu chuyện lưu luyến không nỡ, hay vì mình mà bất chấp tất cả.

Thế nhưng...

Trên đời này, lúc nào cũng có ngoại lệ.

⏮️ Đọc Từ Đầu ⬅️ Trước Tiếp ➡️
💡 Bàn phím: Nhấn phím ◀ Trái để lùi chương, Phải ▶ để chuyển chương tiếp
⭐ Đánh giá bộ truyện: Thoát Khỏi Đảo Hoa Hồng
5.0/5 ⭐ (1 lượt đánh giá) • ❤️ 1 theo dõi

💬 Bình Luận Chương Này

Đang tải bình luận...