🏠 Trang Chủ

Thoát Khỏi Đảo Hoa Hồng - Chương 56 👁️ 0

⏮️ ◀ ▶
🎨 Tùy Chỉnh Phông Chữ & Giao Diện
18px

Rất lâu về sau, đến một ngày nọ, Bàn Sơn chìm vào màn đêm trong cơn mưa lớn.

Cô bé vẫn như mọi đêm trước, tìm một chỗ có thể che mưa, dựa lưng vào gốc cây ngồi xuống, nhìn con đường núi quanh co nhấp nhô phía xa, chờ bà đến đúng hẹn.

Từ lúc trời vừa tối cho đến khi cả vùng núi không còn nhìn thấy một ánh đèn nào.

Cô bé mặc kệ thời gian trôi, cũng không biết mình đã ngồi ở đây bao lâu, chỉ cảm thấy chân tay bắt đầu tê mỏi.

Những hồn ma mờ mịt như mây như sương lượn lờ trong khu rừng phía sau lưng cô gái nhỏ. Dù chúng chỉ phát ra những tiếng khóc, tiếng thở dài và những lời thì thầm mơ hồ chẳng thể nghe rõ, cô bé vẫn quay đầu giải thích với chúng:

“Trời mưa to quá, đường khó đi, nên bà mới đi chậm thôi.”

Đám hồn ma vẫn như mọi khi, chỉ phát ra những tiếng nức nở khe khẽ.

Cô bé lại ngồi thêm rất lâu, rồi chợt nghĩ có lẽ chỗ mình ngồi không đủ nổi bật, những tán lá che mưa cũng đồng thời che khuất cả mình.

Thế là cô bé đổi sang một vị trí có thể nhìn thấy từ rất xa rồi lại ngồi xuống.

Nơi này không có những tán cây xòe rộng như chiếc ô để chắn mưa, hoàn toàn không thể tránh được nước. Cả người cô bé nhanh chóng bị mưa dội ướt sũng, bắt đầu cảm thấy lạnh.

Thật lòng mà nói, đối với cô bé, đây là quãng chờ đợi dài nhất trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, từ lúc ngẩng đầu mong ngóng cho đến khi ôm lấy đầu gối, co người lại để sưởi ấm.

Trên con đường núi quanh co ấy, bóng dáng tập tễnh quen thuộc vẫn không hề xuất hiện.

Cô bé lạnh đến mức run cầm cập, nhưng vẫn lẩm bẩm với những hồn phách phía sau lưng:

“Vẫn còn sớm mà, hôm nay mưa lớn, trời tối nhanh hơn, tôi cũng chưa ngồi bao lâu.”

Cô gái nhỏ ngơ ngác chớp mắt, im lặng thật lâu rồi mới khẽ bổ sung:

“Tôi còn chưa thấy đói nữa.”

Tôi vẫn chưa đói đến khó chịu, chắc chắn vẫn còn sớm lắm. Chỉ là tôi rất nhớ bà, vậy nên chỉ mới chờ một chút đã trở nên khó chịu mà thôi.

Đến lần thứ ba quay đầu giải thích với đám hồn phách, vành mắt cô bé đã đỏ hoe, giọng nói rất khẽ, mang theo chút tủi thân:

“Tóc tết của tôi bung mất rồi, váy cũng bẩn nữa... Tôi không biết làm, nên bà nhất định sẽ đến.”

Thế nhưng, chẳng bao lâu sau khi lời cô vừa dứt, nơi cuối dãy núi bỗng le lói một vệt sáng nhàn nhạt.

Trời bắt đầu hửng sáng.

Cô bé ngẩn người nhìn dải trắng bạc nơi chân trời, nước mắt bất chợt lăn dài từng giọt từng giọt lớn xuống má.

“Cháu... vẫn chưa lớn mà.”

Cô lẩm bẩm một câu.

Như muốn nhấn mạnh, cũng như muốn tìm một lời xác nhận, cô bé lại quay về phía màn sương trắng mênh mang sau lưng, nói thêm một lần nữa:

“Cháu vẫn chưa lớn mà.”

Cháu vẫn chưa lớn, vẫn chưa cao thêm, vẫn chưa biết tự tết những bím tóc thật xinh, cũng chưa trở thành một thiếu nữ duyên dáng.

Tại sao bà vẫn chưa đến?

Mặt đất lầy lội trơn trượt, lúc đứng dậy khiến cô bé ngã nhào một cái. Cô bé ra sức xoa lòng bàn tay đã bị trầy rách, đau đến mức vừa khóc vừa giậm chân.

Rồi lập tức cắm đầu chạy vào trong núi.

Cô bé vẫn nhớ bà từng dặn: “Đừng đến khe núi”, cũng nhớ câu: “Đừng tin bất kỳ ai khác.”

Vì thế, khi đến gần khe núi, cô bé nhảy xuống chiếc giếng cạn.

Suốt dọc đường, cô bé gần như tránh né tất cả mọi người, đồng thời cũng tránh luôn cả thức ăn. Cô bé đã không còn cảm nhận được cơn đói, cũng giống như chẳng còn cảm nhận được đau đớn.

Giữa đường, mắt cô nhóc bị màn sương che mờ, một chiếc giày cũng rơi mất, đến mức lúc nhảy xuống giếng cạn còn bị trẹo chân, đành phải dừng lại nghỉ trong đường hầm một lúc.

Chính trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, cô bé loáng thoáng nghe thấy bên ngoài miệng giếng có người đang bàn tán về một chuyện gì đó.

“Hóa ra vết bỏng trên mặt bà ấy là do chính bà ấy tự làm.”

“Một mảng lớn như vậy, lại còn nổi bật đến thế.”

“Chính vì nổi bật nên chẳng ai hỏi cả, ai cũng tưởng giống như bọn mình.”

...

Nghe đến hai chữ “bỏng”, cô bé lập tức nhớ tới những lời bà từng kể với mình trong một lần hai bà cháu trò chuyện.

Bà nói rằng tất cả nhân viên của khu nghỉ dưỡng Bàn Sơn đều có một đặc điểm chung, đó là trên người ít nhiều đều có vết bỏng.

“Tại sao vậy ạ?” Khi ấy, cô bé khó hiểu hỏi.

Bà lão đáp:

“Bởi vì năm nào lễ hội Bàn Sơn cũng có hội lửa trại. Nếu có người nào không yên lòng về ai đó thì sẽ làm một con búp bê để cầu phúc. Cuối cùng con búp bê ấy phải được ném vào trong lửa, mà ngọn lửa thì cháy lớn quá, khó tránh khỏi bị táp trúng.”

“Bà ơi, vết này của bà cũng là bị lúc cầu phúc sao?”

Cô bé nhẹ nhàng đưa tay chạm vào vết bỏng dữ tợn trên mặt bà lão.

“Cái này của bà thì không phải, là do người nhặt được bà năm xưa vô tình gây ra.”

Nói xong, bà lại đưa một ngón tay lên môi ra hiệu “suỵt”.

“Đừng kể với người khác.”

Cô bé thầm nghĩ mình cũng chẳng có ai để kể cả, còn những hồn ma trong rừng thì đâu được tính là người.

Cô bé học theo cách bà vẫn thường dỗ dành mình, ghé lại gần khẽ thổi lên vết thương đã tồn tại từ chẳng biết bao nhiêu năm trước của bà lão.

“Không đau nữa, không đau nữa.”

Lòng bà lão mềm hẳn đi, bà chậm rãi nói:

“Bà chẳng học hành gì nên không giải thích rõ được, nhưng chuyện tế lễ trong núi mấy năm nay có gì đó rất kỳ lạ, cả chuyện cầu phúc nữa... Những lúc không có việc gì thì đừng đi cầu phúc làm gì, nếu nhìn thấy thì cứ tránh thật xa.”

Những người bà quen biết, rất nhiều người sau khi cầu phúc xong đều trở nên kỳ quái.

Rõ ràng ngoại hình vẫn là người đó, cách nói chuyện, thần thái, dáng đi cũng chẳng thay đổi gì, nhưng chỉ cần thỉnh thoảng liếc mắt nhìn sang trong một khoảnh khắc, cũng đủ khiến người ta lạnh sống lưng.

Bởi vậy bà lão chưa từng tham gia bất kỳ nghi thức cầu phúc nào.

Dẫu sao trước đây cũng chẳng có điều gì khiến bà cầu mà không được, hay không thể yên lòng.

Thế nhưng hai năm trở lại đây, mỗi lần nhắc đến chuyện ấy, bà bỗng không còn đủ tự tin như trước nữa...

Thật ra hôm đó, bà từng nghĩ hay là cũng tạo cho cô bé một vết bỏng. Không cần quá lớn, nhưng vị trí phải thật dễ thấy là tốt nhất, để người khác chỉ cần nhìn một cái là nhận ra.

Chính bà cũng không nói rõ được là đang đề phòng điều gì, chỉ coi như...

...Phòng khi có chuyện ngoài ý muốn.

Chỉ là bà lão nhìn khuôn mặt, rồi nhìn chiếc cổ của cô bé, cuối cùng chỉ khẽ nắm lấy bàn tay nhỏ bé ấy, nhẹ giọng cảm thán:

“Cháu vẫn còn nhỏ mà... còn nhỏ lắm... Tay trẻ con đúng là mềm thật.”

Da thịt mềm và mỏng như thế, nếu bị lửa làm bỏng một lần thì sẽ đau biết bao…

Cho nên cuối cùng, bà lão vẫn không nỡ.

Bà chỉ có thể hết lần này đến lần khác dặn dò:

“Đừng chạy lung tung, đừng liều lĩnh vào núi, cũng đừng để người khác nhìn thấy cháu.”

*

Ở Bàn Sơn, cô bé chưa từng gặp mấy người, nên khi nghe những người bên ngoài nhắc đến “vết bỏng trên mặt”, người đầu tiên cô bé nghĩ tới chỉ có bà lão.

Bởi vì người duy nhất cô bé nhìn thấy có vết sẹo như vậy trên mặt chỉ có bà.

Thế là cô gái nhỏ nín thở, không dám động đậy, sợ bỏ sót dù chỉ một chữ, chăm chú lắng nghe từng câu họ nói.

Cho đến khi nghe thấy một người cất tiếng:

“Bà ấy cũng lớn tuổi rồi, nghe nói tối qua bị trượt chân trên đường núi, ngã từ mép đường xuống khe.”

“Vậy.. còn sống không?”

“Cậu nghĩ xem?”

“Nửa đêm rồi mà bà ấy không ngủ, ra đường núi làm gì vậy?”

“Ai mà biết được.”

“Thế bà lão giờ sao rồi?”

“Đang quàn linh cữu ở căn nhà trong khe núi của bà ấy đấy, phải quàn đủ ba ngày rồi mới đem đi hỏa táng.”

“Thế thì cũng khéo thật, ba ngày sau vừa đúng dịp lễ hội Bàn Sơn.”

“Đúng là khéo thật, cho nên...”

Phần còn lại sau hai chữ “cho nên”, bọn họ đều cố tình hạ giọng xuống rất thấp, thấp đến mức gần như không thể nghe rõ.

Thế nhưng, cho dù bọn họ không hạ thấp giọng đi nữa thì cô bé cũng đã chẳng còn nghe lọt tai được nữa rồi. Đôi mắt cô bé đỏ bừng, mở to đến cực điểm, từng giọt nước mắt lớn cứ thế lặng lẽ lăn dài xuống.

Cô bé vốn không phải là một đứa trẻ quá ngoan ngoãn.

Cô bé đã không nghe lời bà.

Bởi vì cô đã đến khe núi.

Đường hầm dưới đáy giếng chằng chịt đan xen, vừa tối vừa dài. Trước đây, lúc nào cô bé cũng chẳng nhớ nổi đường đi, vậy mà chỉ trong một ngày một đêm ấy, vừa khóc vừa lần mò, đứa trẻ ấy đã thuộc lòng từng ngã rẽ.

Cuối cùng, cô bé cũng tìm được miệng giếng thông đến căn nhà nhỏ của bà lão.

Trong căn nhà ấy có những người chuyên lo việc tang lễ.

Cô bé nấp trong bụi hoa cỏ cao bên cạnh cửa, không nhìn thấy cảnh tượng bên trong, chỉ có thể lặng lẽ lắng nghe âm thanh truyền ra. Tiếng kim loại va chạm leng keng liên tiếp, một lúc sau, lại nghe thấy hai người đàn ông đang trò chuyện.

“Điên à? Đừng quấn dây gai lên đó chứ, có phải làm búp bê đâu, cẩn thận xác bật dậy bây giờ.”

“Quên mất, quen tay rồi.”

Giọng bọn họ đều đều, chẳng hề mang theo chút cảm xúc nào.

“Tay bà lão nắm chặt cái gì thế?”

“Hình như là loại giấy cầu phúc.”

“Cạy ra được không?”

“Xì... chỉ cạy được một phần thôi. Tay cứng hết rồi, bẻ cũng không nổi.”

“Thôi bỏ đi, bẻ gãy thì lúc tế lễ cũng chẳng đẹp mắt.”

“Trên đó viết gì vậy?”

“Nửa tờ này hình như là... 'Tiểu'? Chắc thế, nhưng cũng không đầy đủ.”

...

Thi thể bà lão đã cứng đờ hoàn toàn, bọn họ chỉ có thể kéo ra được một góc nhỏ của tờ giấy cầu phúc.

Nếu nhìn thấy phần còn lại, bọn họ sẽ phát hiện trên đó có viết một cái tên.

Tiểu Đào.

Đó là cái tên bà lão mới đặt cho cô bé cách đây không lâu.

Dường như bà đột nhiên cảm nhận được mình ngày càng già đi, quãng thời gian còn lại cũng ngày một ít hơn.

Có một hôm, bà bất ngờ đến khu rừng hai lần.

Cô bé tò mò hỏi, bà chỉ cười đáp:

“Không có gì đâu, chỉ là muốn đến thăm cháu thêm một lần nữa.”

Đêm hôm ấy, bà ngồi cùng cô bé trên gốc cây nơi bìa rừng. Mỗi lần đứng lên hay ngồi xuống đều vô cùng chậm chạp. Những ngón tay khô gầy như cành cây mục của bà khẽ vỗ lên mu bàn tay cô bé, rồi lưu luyến vuốt ve từng chút một, hồi lâu mới bất chợt lên tiếng:

“Bà đặt cho cháu một cái tên nhé. Có tên rồi... bà sẽ dễ gọi cháu hơn, cũng không dễ nhận nhầm.”

Cô bé vui vẻ gật đầu.

Bà lão mỉm cười nói:

“Chữ khó thì bà cũng không biết viết. Hay gọi là Tiểu Đào nhé, được không?”

Trong mắt người dân Bàn Sơn, rừng đào bạt ngàn tượng trưng cho sức sống nối tiếp không dứt.

Tiểu Đào mang ý nghĩa phúc thọ bình an.

Cũng mang ý nghĩa phải sống thật tốt.

Cô bé nhớ đến những quả đào hồng nhuận mọng nước trên cành cây, lập tức vô cùng thích cái tên ấy, liền gật đầu đáp:

“Được ạ.”

“Vậy thì là Tiểu Đào.”

Bà bật cười, rồi lại hơi thất thần, cứ khe khẽ gọi hết tiếng này đến tiếng khác:

“Tiểu Đào... Tiểu Đào... Cháu nhất định phải nhớ kỹ cái tên này nhé, kẻo đến lúc đó... bà lại nhận nhầm người.”

Kể từ đó, cô bé đã có tên.

Đáng tiếc, người đặt tên cho cô cũng chỉ kịp gọi cô hơn mười ngày ngắn ngủi mà thôi.

*

Đến khi những người lo tang lễ rời đi thì đã là đêm khuya.

Theo tục lệ Bàn Sơn, trong thời gian quàn linh cữu, cửa không được đóng, đèn không được tắt.

Tiểu Đào nhân lúc không có ai lẻn vào trong nhà.

Cô bé đã khóc suốt một ngày một đêm, mắt sưng đỏ, chóp mũi ửng hồng, tóc tai rối bù, váy áo dơ bẩn, đôi chân trần dính đầy bùn ướt lẫn máu.

Mất đi bà, dường như cô bé lại trở thành đứa trẻ co ro ở lối vào núi năm nào, không ai cần đến.

Bà lão nằm trên một tấm ván đen dài, trán và tứ chi đều bị đóng những cây đinh dài.

Tiểu Đào nghĩ chắc hẳn rất đau nên muốn nhổ chúng ra, nhưng sức những ngón tay của cô bé sao có thể thắng nổi chiếc búa và cây đinh, móng tay cào đến bật máu mà chiếc đinh dài vẫn không nhúc nhích.

Cuối cùng cô bé lau nước mắt, nằm úp lên người bà lão, hướng về vết thương dưới cây đinh, nơi không còn chảy máu nữa, mà thổi từng hơi một, dỗ dành:

“Bà không đau.”

Rồi cô bé co người như một con tôm nhỏ, nắm lấy bàn tay lạnh ngắt của bà lão, tựa vào bên cạnh mà nằm xuống.

Cô bé mơ một giấc mơ ngắn, trong mơ dang hai tay về phía bóng người mờ nhòe trên con đường núi và hỏi:

“Cháu có thể theo bà về nhà không?”

Nhưng bóng người ấy càng lúc càng xa, cô bé siết chặt nắm tay đuổi theo, vẫn mãi không đuổi kịp.

Dường như từ đó cô bé đã nhớ mãi thời khắc trời sáng, giống như bắt đầu sợ hãi những cơn mưa lớn giống hệt đêm hôm trước.

Cô bé giật mình tỉnh dậy khi trời vừa hửng, lờ mờ nghe thấy trong khe núi có tiếng người nói chuyện, liền vội vàng trốn về phía miệng giếng.

Ba ngày quàn linh cữu ấy, cô bé đều sống như vậy.

Ban ngày trốn đi, ban đêm lại co ro bên cạnh bà.

Trong ba ngày đó, có rất nhiều người đến căn nhà này, phần lớn đều bàn về thời gian và lễ hội Bàn Sơn, Tiểu Đào không hiểu lắm.

Nhưng cô bé nghe được một chuyện cực kỳ quan trọng đối với mình.

Người trong núi nói rằng sở dĩ phải quàn ba ngày là vì hồn phách vẫn chưa hoàn toàn rời đi.

Họ còn nói lễ hội Bàn Sơn sắp đến, cần tìm vài con búp bê. Nếu dùng năm cây đinh dài xuyên qua trán và tứ chi của búp bê, rồi buộc dây gai trắng vào đó và quấn quanh ngón tay mình, con búp bê ấy có thể thay người chịu tế.

Đợi đến khi lửa trại của lễ hội Bàn Sơn bùng lên, búp bê thay mình lao vào biển lửa, sẽ đổi được cho một người phúc thọ bình an.

Chỉ cần viết tên người đó lên giấy cầu phúc rồi ném vào ngọn lửa cùng lúc.

Đổi được cho một người phúc thọ bình an?

Tiểu Đào ghi nhớ thật sâu câu nói ấy.

Cô bé nhớ đến con búp bê bà từng tặng mình từ rất lâu, đó là món quà của bà lão, cũng là người bạn bầu bạn cùng cô bé trong khu rừng sâu.

Cô bé hơi luyến tiếc.

Nhưng nếu có thể đổi bà trở về, thế nào cũng đáng.

*

Lửa của lễ hội Bàn Sơn vừa chập tối đã bắt đầu cháy.

Thật ra các nhân viên của khu nghỉ dưỡng đã bắt đầu dựng giàn lửa từ buổi chiều, những cành củi đều được chọn lựa rất kỹ, độ dài ngắn và độ to nhỏ gần như tương đồng, được xếp chồng từng lớp lên nhau ngay ngắn, chất cao hơn cả một thân người, vừa giống một chiếc lều lớn vừa giống một kho thóc khổng lồ.

Cho nên, bất kể là khách hay Tiểu Đào cũng đều không hề biết rằng, bà lão đã chết ấy, vào đúng thời khắc này lại đang lặng lẽ nằm giữa đống củi.

Đây là một hình thức tang lễ đặc thù chỉ có ở Bàn Sơn.

Nếu trong núi có người qua đời, trán và tứ chi sẽ bị đóng những chiếc đinh sắt, đầu hướng ra cửa, chân hướng vào trong rồi quàn linh cửu suốt ba ngày, sau đó lại dựng một vòng củi khô cao vây quanh, ở bên hồ hoặc ngoài rừng đào, châm lên một ngọn lửa tế, để lửa bùng cháy đỏ rực cả một khoảng trời.

Đó là một nghi lễ tế tự riêng biệt.

Chỉ khác ở chỗ, thứ được dùng không phải búp bê, mà là người đã chết. Những người thân thích đến viếng cũng có thể mang theo búp bê và giấy cầu phúc, cầu xin bình an và trường thọ trong ngọn lửa ấy.

Bản chất của nó, không khác lễ hội Bàn Sơn là bao. Vì vậy khi hai thứ trùng nhau, thường sẽ được tổ chức cùng một lúc.

*

Chiều hôm đó Tiểu Đào trốn dưới giếng, đóng từng đinh từng đinh hoàn chỉnh con búp bê, rồi lại buộc chỉ gai trắng lên những chiếc đinh bạc, sau đó từng vòng từng vòng quấn chặt lên các ngón tay của mình.

Nhưng lý do cô bé không biết thi thể của bà lão đang ở đâu, là vì cơ thể cô bé đã xuất hiện một biến đổi kỳ quái.

Có một cánh tay ngày càng trở nên mềm rũ và vô lực.

Cô bé vốn tưởng là do đói, dù sao thì đã rất lâu rồi cô bé không ăn thứ gì có thể lấp đầy bụng. Chỉ có vài viên kẹo và hai miếng bánh tìm được trong phòng của bà lão, nhưng cô bé vẫn luôn cẩn thận nhét chặt trong túi, không nỡ ăn.

Nhưng về sau, cô bé phát hiện dường như không hoàn toàn là do đói. Khi chạm vào cánh tay không còn sức lực ấy, nó mềm đến mức giống như… chính con búp bê trong tay cô bé.

Và có lẽ vì dưới giếng quá tối, chiếc đèn dầu lay động làm hoa mắt, trong một khoảnh khắc nào đó, cô bé thậm chí còn cảm thấy con búp bê kia như vừa nhìn mình một cái.

Cô bé có chút hoảng hốt.

Nhưng chỉ cần nghĩ đến việc có lẽ bà lão sẽ quay về, thì cô bé lại chẳng còn sợ gì nữa.

Chỉ cần bà lão có thể trở về, cô bé sẽ sống rất hạnh phúc. Cô bé vẫn có thể mỗi ngày ngồi ở gốc rừng trên thân gỗ, nhìn về cuối con đường núi quanh co uốn lượn, nơi một bóng người chậm rãi tập tễnh xuất hiện, rồi khẽ gọi mình: “Tiểu Đào…”

“Tiểu Đào à…”

Tiểu Đào kéo thân thể ngày càng không ổn định của mình, đi qua những lối ngầm dưới giếng, vừa lần mò vừa loạng choạng tiến về phía trước.

Cho đến khi cô bé đi tới bên hồ, trời đã hoàn toàn tối.

Bên hồ có rất nhiều người, dưới sự giao thoa sáng tối của lửa trại và bóng đêm, từng bóng người đang vây quanh hồ mà múa.

Ngọn lửa rất lớn, khiến cả bầu trời phía trên cũng bị nhuộm đỏ rực.

Có một số người đang dùng chỉ gai trắng nâng những con búp bê trong tay mình, làm nghi thức trước khi cầu phúc, miệng lẩm bẩm không ngừng…

Giống như đang diễn một trò múa rối.

Tiểu Đào không biết, cũng không hiểu.

Cô bé chỉ đứng từ xa nhìn những người đó, chăm chú quan sát động tác của họ, vụng về muốn học theo.

Nhưng có lẽ cô bé quá đói, cũng quá mệt, toàn thân mềm nhũn vô lực, dưới cơn choáng váng quay cuồng, đến đứng cũng không đứng vững.

Cô bé ngã xuống trước đống lửa, ngay ở nơi gần ngọn lửa nhất, trong tay vẫn nắm chặt tờ giấy cầu phúc mà mình lén viết.

Bà lão biết chữ, nhưng viết không nhiều, những gì có thể dạy cho Tiểu Đào cũng rất ít. Tiểu Đào lại cảm thấy may mắn, ít nhất cô bé biết viết chữ quan trọng nhất lúc này.

Trên tờ giấy cầu phúc ấy, viết rõ ràng: “bà lão”.

Không ai nói cho cô bé biết rằng viết như vậy thật ra là sai, đó không phải tên của bà lão, mà chỉ là một cách xưng hô.

Một xưng hô mà ai cũng dùng.

Ngọn lửa bùng lên dữ dội, Tiểu Đào cố gắng giãy giụa trên mặt đất, cô bé muốn bò thêm vài bước nữa.

Chỉ cần hai bước thôi, cô bé có thể dùng chút sức lực cuối cùng ném búp bê và tờ giấy cầu phúc vào trong lửa.

Sau đó cô bé có thể kiên nhẫn chờ đợi, giống như mỗi đêm trước đây.

Bà lão sẽ đến, sẽ thổi vào nơi bị lửa nung đến đau rát của cô bé và nói: “Tiểu Đào đừng sợ.”

Cô bé đói đến mức không đi nổi nữa, cũng không thể quay về rừng, bà lão vốn mềm lòng, có lẽ sẽ đưa cô bé về nhà.

Rồi từ đó, cô bé sẽ có nhà.

Nhưng cho đến khi cô bé biến thành búp bê, bị một cô gái giống hệt mình nhấc lên rồi ném vào biển lửa, cô bé mới đột nhiên nhận ra…

Tất cả những điều cô bé mong chờ đều không đến.

Cô bé dường như đã bị lừa.

Cô bé không làm được điều đã hứa với bà lão, có lẽ cũng không thể sống nữa, nhưng cô bé vẫn chưa cao, chưa lớn, lúc khắc bức bích họa kia thậm chí còn phải kiễng chân…

Cô bé rơi xuống giữa đống củi, đang dần hóa thành tro tàn và khói mây.

Toàn thân cô bé là lửa, là đau đớn, lại bị cành củi khuấy động làm lật người một cái.

Rồi cô bé nhìn thấy người đang nằm trong đống củi.

Người đó đã bị lửa thiêu co rút biến dạng, trong lòng bàn tay vẫn nắm chặt tờ giấy cầu phúc, trên giấy là một cái tên chưa trọn vẹn: Tiểu Đào.

Bà lão vốn không biết bước chân chậm rãi của mình sẽ đi đến đâu.

Giống như rất nhiều người già chuẩn bị hậu sự từ sớm, bà đã viết sẵn tờ giấy này, cất trong túi áo sát người.

Khi rơi xuống từ vách núi, bà dùng chút sức lực cuối cùng để móc ra tờ giấy ấy, siết chặt, siết chặt trong lòng bàn tay. Bà biết phong tục tang lễ của Bàn Sơn, nên khi đến lúc bị thiêu, bà muốn mang theo tờ giấy này cùng mình.

Giống như dùng chính mạng sống của mình để tế cáo ngọn núi mà bà đã ở suốt mấy chục năm. Nếu thần linh từng xuyên sơn vượt lĩnh kia vẫn còn linh nghiệm, liệu có thể để đứa trẻ đáng thương kia được sống tiếp hay không.

Tờ giấy hóa thành tro bụi, trong khoảnh khắc tan vào đêm gió. Con búp bê cũng đã bị thiêu co rút lăn hai vòng, rồi dựa sát vào bên cạnh người đã khuất.

Và khi mảnh tro giấy ấy lướt qua bên cạnh “Tiểu Đào” mới, một mảnh linh hồn còn sót lại được giữ lại dưới lời cầu nguyện của bà lão, theo ánh mắt và đôi môi hé mở mà tiến vào thân thể.

Khoảnh khắc ấy, “Tiểu Đào” nhìn ngọn lửa, bất giác đỏ hoe mắt. Cô bé như nghe thấy trong gió có ai đó thở dài nói một câu.

Người đó nói: Tiểu Đào à, một đời người, hình như thật sự rất khó để không vướng bận điều gì.

Cô bé theo tiếng nhìn lại, thấy hai làn sương trắng đang trôi về phía rừng sâu. Còn mưa ở đảo thành đột nhiên nặng hạt, như tiếng nức nở rơi xuống mặt hồ.

Cô bé dùng mu bàn tay lau mắt, lại chỉ lau được đầy tay nước mưa.

*

Xác thân của người sống không thể bị chiếm quá lâu.

Ngu Thanh khẽ chấn động, dưới lớp khói xanh vàng bao phủ, trở về trong thân thể con búp bê bằng vải.

Cuối rìa ngọn núi le lói một tia sáng mờ, nhưng mưa lớn vẫn nặng nề trút xuống người Tiểu Đào.

Dù phần lớn linh hồn và ý thức đã bị búp bê thay thế, cô bé vẫn không thích khoảnh khắc trời sáng, cũng vẫn chán ghét cơn mưa lớn giữa núi rừng.

Nhưng ngay khi cô bé lộ ra vẻ chán ghét rõ ràng, lại nghe thấy người đang mượn thân xác cô bé, trước khi rời đi đã khẽ nói với linh hồn cô bé một câu rất nhẹ: “Đừng ghét mưa ở đảo thành, đó là có người đang nhớ đến những người ở nơi này.”

Giống như đang nhớ đến bà lão ấy.

Tiểu Đào khựng lại, theo phản xạ buột miệng: “Ai nói?”

Từ trong thân thể búp bê, Ngu Thanh khẽ dừng lại: “…Có người nói với tôi.”

Câu trước chỉ có anh và Tiểu Đào nghe thấy, còn câu sau không đầu không đuôi này lại khiến người khác để ý.

Di Tiếu Bạch dùng đầu ngón tay nâng cằm con búp bê lên, khiến nó hơi ngẩng mặt: “Có người là ai?”

Hắn lại nâng thêm một chút, con búp bê buộc phải ngẩng cao hơn: “Nói với cậu cái gì?”

Ngu Thanh: “……”

Con búp bê bằng vải với gương mặt cố định nhìn Di Tiếu Bạch, giọng anh từ bên trong truyền ra: “Cậu còn nâng nữa?”

Di Tiếu Bạch lập tức rút tay lại, con búp bê cũng hạ xuống. Hắn kéo giọng lười biếng: “Các cậu đang nói chuyện riêng, còn tôi thì chẳng biết gì cả.”

Ngu Thanh biết hắn có thể nghe thấy tiếng quỷ nói chuyện, dù bị giới hạn bởi thân thể này nên nghe không rõ, nhưng “chẳng biết gì cả” vẫn khiến anh hơi nghi ngờ.

Con búp bê khẽ lắc đầu, rồi dùng đầu chạm nhẹ vào ngón tay Di Tiếu Bạch, dùng giọng mà Tiểu Đào không nghe thấy, nói: “Tôi vừa mượn thân xác cô bé, cảm nhận được vài thứ.”

“Nói thử xem?”

Ngu Thanh trầm giọng: “Có thê cô bé ở thế giới hiện thực vẫn còn sống.”

Di Tiếu Bạch khựng lại.

Người sống và người đã chết, trong khí tức linh hồn có sự khác biệt rất vi diệu.

Các thần minh biết đảo thành là nơi người chết sinh sống, cũng biết thỉnh thoảng sẽ có người sống lạc vào. Vì vậy, việc phát hiện manh mối đối với một số thần minh không quá khó.

Ví dụ như Ngu Thanh với thân phận Họa Bì, khi mượn da người có thể bắt được một vài dấu vết.

Ví dụ như Mạnh Bà phân hồn, đôi khi cũng có thể cảm nhận được chút ít.

Lại ví dụ như khi Vô Thường biến thành trạng thái tóc trắng, có thể trực tiếp chạm sâu vào linh hồn, cũng sẽ cảm nhận được điều bất thường.

……

“Nhưng vẫn cần xác minh.” Ngu Thanh vốn cẩn trọng, bổ sung thêm: “Nếu thật sự còn sống, cần sớm đưa cô bé ra ngoài.”

Nếu không, ở đảo thành thêm một năm, linh hồn sẽ tổn hao thêm một phần, kéo dài quá lâu, ràng buộc quá sâu, sớm muộn cũng tan biến.

Anh nói xong thì chờ một lúc, không đợi được phản hồi, hơi khó hiểu ngẩng lên, lúc này mới thấy Di Tiếu Bạch gật đầu: “Đúng vậy.”

Hắn dừng lại một lát, khẽ hỏi: “Còn gì nữa không?”

“Có.” Ngu Thanh nhớ lại những đoạn ký ức của Tiểu Đào: “Phải bắt đầu nghi lễ lửa trại Bàn Sơn trước khi độ tương thích đạt 100%.”

“Cậu nói là nghi lễ Bàn Sơn hả?” Di Tiếu Bạch nói: “Còn năm ngày nữa là đến, thời gian chờ có vẻ hơi… quá lâu.”

“Có cách làm sớm.” Ngu Thanh mở miệng: “Năm ngày quá lâu, nhưng một ngày thì không khó.”

“Một ngày?” Di Tiếu Bạch khá tò mò, rốt cuộc anh đã thấy gì trong thân xác Tiểu Đào, mà lại có cách đẩy sớm như vậy.

Ngu Thanh: “Bản chất lễ hội Bàn Sơn là tế lễ, mà Bàn Sơn còn có một việc khác, bản chất cũng là tế lễ.”

“Là gì cơ?”

“Tang lễ.”

 

⏮️ Đọc Từ Đầu ⬅️ Trước Tiếp ➡️
💡 Bàn phím: Nhấn phím ◀ Trái để lùi chương, Phải ▶ để chuyển chương tiếp
⭐ Đánh giá bộ truyện: Thoát Khỏi Đảo Hoa Hồng
5.0/5 ⭐ (1 lượt đánh giá) • ❤️ 1 theo dõi

💬 Bình Luận Chương Này

Đang tải bình luận...