Chương 9: Thiên Châu
Một ngày sau, Kim Minh Thạch chia số binh vệ Phúc Thành mà gã ta thống lĩnh trong chuyến đi này làm hai. Đích thân gã ta sẽ dẫn một nghìn binh vệ hộ tống Di Tân trở về kinh đô, bốn nghìn người còn lại giữ nguyên vị trí, chờ đợi tân thành chủ đến tiếp quản.
Bản đồ cương vực của Minh Vương Di La trải dài qua hai nước, lấy vương A Ưu Thành làm trung tâm. Bình nguyên Hưởng Linh không nghi ngờ gì chính là trọng địa tâm phúc của Minh vương. Từ bình nguyên Hưởng Linh đi về hướng Tây Bắc là Đại Trân của họ Nhiếp, đi về hướng Đông Nam lại là Chung Cổ của họ Di.
Di Ly Nan trong chiếu thư gọi Di La là kẻ "dẫn dắt quân nghịch tặc ba bộ bại trận cư ngụ nơi đất Bắc", thực chất đều là lời lẽ xằng bậy. Di La rời khỏi Sâm La, mượn danh nghĩa lên phía Bắc chi viện cho Chiêu Châu, đã cùng đại tướng biên thùy Đại Trân là Quý Bách Bảo giao chiến nhiều trận tại bình nguyên Hưởng Linh, cuối cùng Quý Bách Bảo không địch lại, buộc phải rút lui. Các tướng lĩnh nội bộ Đại Trân bàn bạc, vốn tưởng Di La giữ được Chiêu Châu xong sẽ điều quân đi, nào ngờ ông ta lại thừa thắng xông lên đánh thẳng vào bình nguyên Hưởng Linh. Ông dẫn theo ba bộ một trấn, tổng cộng ba vạn binh mã phi nước đại trong đêm, thế như chẻ tre, nuốt chửng toàn bộ bình nguyên Hưởng Linh.
Khi đó chiến báo truyền về vương đô Đại Trân, nghe nói vị thiên tử họ Nhiếp vừa mới đến tuổi nhược quán (20 tuổi) trước tiên khóc không thành tiếng, sau đó gào lên "Một lũ mọt yếu hèn, không kẻ nào là trượng phu", rồi ngất lịm tại chỗ. Ngược lại là tại Sâm La, Di Ly Nan sau khi nhận được chiến báo thì đại hỷ, đến nỗi không kịp thay bào phục, vừa chạy vừa hô lớn "Con ta là giống Kỳ Lân, thiên hạ ai kẻ địch thủ", đồng thời triệu tập quần thần, muốn phong thêm tước vị vinh hiển cho Di La sắp khải hoàn về kinh.
Thế nhưng Di La không về kinh. Ông dựa vào các cường tướng mưu sĩ dưới trướng, nuốt trọn hai châu Chiêu, Viễn của Di Ly Nan, khiến bản đồ phía Tây Bắc của Chung Cổ trông nham nhở như chó gặm. Từ đó, vùng biên giới Đông Bắc của Đông Nguyên hình thành thế chân vạc.
Hai mươi năm qua, Di La liên minh với các tộc phía Đông, mưu đồ kháng cự sự bành trướng của Di Ly Nan. Tuy nhiên, Di Ly Nan lại tái lập giao hảo với nước Na Cô ở phía Tây Nam. Ông ta nhập ngựa của Na Cô, lại xây thành trì mới ở phía Tây Bắc, tạo thành thế bao vây một nửa, đóng đinh Di La tại bình nguyên Hưởng Linh, không cho binh mã của Minh vương tiến thêm một bước nào về phía Nam.
Nay Di La chết dưới tay Di Tân, các tộc phía Đông ai nấy tự làm theo ý mình. Chỉ trong vòng vài ngày ngắn ngủi, có tộc quy thuận Chung Cổ, có tộc đầu quân cho Đại Trân, cũng có tộc ly tán nơi hoang dã. A Ưu Thành nhờ có Di Tân bảo đảm nên chưa loạn, nhưng các thành châu còn lại đều vấp phải sự trấn áp tàn khốc của binh sĩ Chung Cổ.
Trong đó thảm khốc nhất là Viễn Châu. Thứ sử Viễn Châu là Điêu Cầm chống cự không đầu hàng. Ban đầu ông ta tưởng tin Di La băng hà là do Chung Cổ phao tin lừa gạt, sau khi nghe tin A Ưu Thành đã rơi vào tay địch, liền không khỏi già nua nước mắt chảy dài.
"Thế sự ngắn tựa mộng xuân, tình người mỏng tựa mây thu."* Trong cơn mưa lớn, Điêu Cầm phóng tầm mắt ra ngoài thành quách: "Nhớ năm xưa, ta cùng Bệ hạ chinh phạt bình nguyên Hưởng Linh sáu trận, trận nào cũng thắng. Năm đó Bệ hạ hai mươi bốn tuổi, ta thấy ngài ngang thương quất ngựa, anh tư bừng bừng, nhiều lần dẫn đầu quân sĩ xông pha hãm trận diệt địch, đẩy lui quân thù. Khi đó ta đã nghĩ, dù là Nhiếp Hữu Vi - người năm xưa thống nhất Đông Nguyên - có sống lại cũng chỉ đến thế mà thôi! Thế gian này có Di La, chắc chắn là vì thần linh trên trời thấy nhân gian quá đỗi khổ cực, nên mới ban xuống giống Kỳ Lân này để an ủi chúng sinh."
[*] Trích từ Tây Giang Nguyệt - Thế sự đoản như xuân mộng của Chu Đôn Nho.
Nước mưa chảy qua khuôn mặt đầy nếp nhăn, ông thở dài sầu muộn.
"Hai mươi năm qua, Bệ hạ lui về A Ưu Thành, ta nhiều lần yết kiến, xin ngài đông chinh các bộ, ngài nhất quyết không chịu. Bên ngoài đều đồn rằng, là người đàn bà kia đã làm mê muội tâm trí ngài, khiến ngài từ đó buông trường thương, không còn chinh chiến. Pháp sư, ngài cũng là pháp sư của Khất Minh giáo, ta hỏi ngài, tất cả chuyện này là lỗi của người đàn bà kia sao?"
Phía sau Điêu Cầm là một vị pháp sư áo trắng. Pháp sư đeo Thiên châu và hoa vàng trên người, cũng là một bậc lão niên. Ông chậm rãi lắc đầu, nói với Điêu Cầm: "Vạn sự vốn dĩ tại mệnh. Bệ hạ đã là giống Kỳ Lân trời ban, sao có thể dễ dàng bị người ta che mắt? Ngài không chịu đông chinh là vì không muốn bình nguyên Hưởng Linh cũng biến thành bình nguyên Lộc Tuy. Hai mươi năm qua, Sứ quân, ngài hãy nhìn Viễn Châu này, nhìn lại bình nguyên Hưởng Linh này, trăm họ an cư, thương nhân tấp nập, thiên hạ ai không ngưỡng mộ? Vương hậu mặc áo trắng vào hồng trần, bôn ba các bộ, xa cách Bệ hạ nhiều hơn gần gũi, há chẳng phải cũng vì một chữ 'công đạo thiên hạ' sao? Sứ quân, nếu luận về lỗi lầm, kẻ nên nhận lỗi nhất lúc này phải là chúng ta mới đúng!"
"Phải..." Ánh mắt Điêu Cầm cô độc, ông lại nhìn về phía lá cờ trên đầu tường, đó là lá cờ Hoàng Kim Hắc Lệ của Minh vương: "Là chúng ta... Nếu không phải chúng ta cố chấp giữ ý riêng, Bệ hạ hà tất phải làm đến mức này?"
Chỉ cần nghĩ đến việc Di La đã chết, ông liền không kìm nén được cảm xúc, run rẩy vịn vào tường thành, nghẹn ngào nói với pháp sư: "Pháp sư, ngài đi đi. Cả nhà họ Điêu mười hai mạng người chúng ta đều nhờ ơn trọng của Bệ hạ. Trận chiến này bại cục đã định, ta nhất định phải lấy thân tuẫn chủ. Kẻ đang thống lĩnh binh mã dưới thành kia là Điền Như Bình. Hắn năm xưa trấn thủ Viễn Châu bất lực, dưới sự kẹp đánh của ta và Bệ hạ đã tháo chạy thảm hại, vì thế mà bị Di Ly Nan quở trách nặng nề. Kẻ này tâm tính hẹp hòi, nay hắn vào được Viễn Châu, chắc chắn sẽ đồ sát binh sĩ để hả giận!"
Tiếng trống trận bên ngoài vang lên, vị pháp sư ngước nhìn bầu trời, khẽ nói: "Khất Minh giáo đã sớm suy tàn, nếu không nhờ Bệ hạ lòng dạ nhân từ, thu nhận chúng ta nương náu trong cương vực để kéo dài hơi tàn, e là thế gian này đã không còn Khất Minh giáo từ lâu rồi. Ngài bảo ta đi, nhưng ta biết đi đâu đây? Sứ quân, nghe nói khi ngài theo Bệ hạ chinh chiến sa trường, trúng mấy mũi tên vẫn có thể xung phong, không biết hôm nay, lão phu có vinh hạnh được tận mắt chứng kiến uy phong của 'Mãnh cầm* đệ nhất Viễn Châu' hay không?"
[*]Cầm ở đây là loài chim. Mãnh cầm là có nghĩa là chim dữ, chim săn mồi.
"Người già đao rỉ, nói gì đến uy phong?" Điêu Cầm bước xuống bậc thềm, nhận lấy mũ trụ từ tay tỳ tướng. Ông quay đầu nhìn Viễn Châu một lần cuối: "Người đời sợ nhất anh hùng xế bóng, thân xác này của ta đã chẳng còn được như năm xưa. Pháp sư, e là hôm nay phải để ngài thất vọng rồi!"
"Sứ quân chớ có xem nhẹ mình." Pháp sư không đi theo ông mà đứng trên tường thành, cười một cách phóng khoáng: "Trận này thắng hay không thắng cũng chẳng thay đổi được đại cục thiên hạ, nhưng trận này dũng hay không dũng lại liên quan đến danh tiếng của đám nghịch tặc chúng ta. Sứ quân, trận này, lão phu cùng ngài sinh tử có nhau!"
Điêu Cầm cười lớn, ông lên ngựa, hướng về phía cổng thành sắp bị phá vỡ, rút trường đao ra: "Pháp sư, kiếp sau, ta vẫn muốn cùng ngài uống rượu luận đạo —— Trời không thấy Điêu Cầm ta thế như mãnh hổ sao? Chúng binh sĩ, sát địch, sát địch!"
Cổng thành tức khắc vỡ tan, Điêu Cầm tiên phong xung trận. Con ngựa già của ông đâm sầm vào đám binh sĩ Chung Cổ đen kịt như thủy triều, vậy mà vẫn dũng mãnh không gì cản nổi! Gió mưa trên đầu tường gào thét, pháp sư tháo Thiên châu và hoa vàng trên người xuống, ông cúng tế thương thiên, mặc cho gió mưa xé rách áo bào trắng, gào lên: "A Hi Á tối cao, ba mươi năm rồi, sao không thương xót con dân của Người! Nếu Người còn có mắt, hãy mượn cho Khất Minh chúng con một cụm Nghiệp hỏa nữa đi!"
Lá cờ Hoàng Kim Hắc Lệ tung bay, rung lắc dữ dội trong gió mưa. Pháp sư giơ cao hai tay, lớn tiếng tụng kinh văn. Trong suốt ba mươi năm qua ở Đông Nguyên, không còn một vị pháp sư Khất Minh nào có thể dẫn ra Nghiệp hỏa, thế nên cơn mưa kia vẫn như những chuỗi hạt đứt dây, xối xả đập vào người pháp sư.
Tên bay đến, xuyên qua lồng ngực pháp sư, khiến ông ngã nhào từ trên tường thành xuống, cùng với Điêu Cầm vừa ngã ngựa, bị vùi lấp dưới muôn vàn vó sắt.
Thủy triều đen như rắn bao phủ lấy bình nguyên Hưởng Linh, Di Tân chính vào lúc này tỉnh lại. Hắn gối đầu lên cánh tay, chuỗi dài Thiên châu, mã não và hoa vàng quấn quanh ngực đang nóng lên. Hắn chộp lấy chúng, viên Thiên châu rơi xuống giữa không trung, đung đưa theo nhịp xe chạy.
Mẫu hậu.
Di Tân nhìn chằm chằm vào viên Thiên châu. Chuỗi hạt này được kết rất kỳ lạ, hai đầu mỗi bên đính một bông hoa vàng nhỏ nhắn tinh xảo, một nửa là mã não đỏ, xen kẽ vài viên hạt lưu ly như chứa ánh lửa. Thiên châu nằm ở chính giữa, hai bên lại có hai chiếc móc xương trắng hình rắn bò lên.
Bên ngoài thấp thoáng tiếng phàn nàn của Từ Đạo Thuần, Di Tân quấn chuỗi hạt lại vào tay trái, ngồi dậy vén màn xe, hỏi Long Sơn đang đánh xe: "Hắn ồn ào cái gì?"
"Chê xe bò quá chậm." Long Sơn nhìn về phía đó một lát: "Lão trọc đầu kia không chịu chia ngựa cho hắn."
Ngựa là vật tư quân dụng, ngoại trừ xe của đích thân Di Ly Nan, chỉ có tông thất và Tam công được đặc cách mới có thể ngồi xe ngựa, quan viên thông thường và môn phiệt hào tộc khi đi lại chỉ có thể ngồi xe bò. Bốn con ngựa kéo xe của Di Tân vốn là của Di La.
"Đám người này toàn lũ không ra gì." Long Sơn quay đầu nói với Di Tân: "Trước khi đi chúng phân chia hết ngựa của chúng ta, huynh đệ đều phải đi bộ theo sau."
"Cho chúng đi." Mặt Di Tân không chút biểu cảm: "Giữ ngựa lại cũng chẳng để làm gì, tám trăm người này vào đến Sâm La cũng sẽ bị phân tán mất một nửa."
"Trong đó còn có những con ngựa đại ca đặc biệt chọn ra để nuôi cho Thái tử mà." Long Sơn quất mạnh roi ngựa, đầy vẻ bất bình: "Biết sớm là bị chúng giày xéo thế này, thà mấy hôm trước ta giết quách đi cho xong."
"Giết thì phí quá." Di Tân hơi ngẩng đầu, trong mắt tích tụ bão tố: "Cho chúng mới gọi là không lãng phí."
Long Sơn mấy ngày nay chịu không ít khổ sở từ chỗ Kim Minh Thạch và Uất Trì Lương. Đại ca cậu ta tên là Long Tường, là con nuôi của Di La, lớn hơn cậu ta sáu tuổi. Hai huynh đệ họ xuất thân từ phía Đông, là trẻ mồ côi được Vương hậu bế từ bên ngoài về. Vốn là vì Vương hậu thường xuyên đi xa, lo lắng Di Tân không có người chơi cùng, nên mới tìm cho hắn hai người huynh đệ.
Long Tường sớm hiểu chuyện, từ nhỏ đã dẫn dắt đệ đệ thề rằng sẽ làm cánh tay trái cánh tay phải cho Di Tân. Hồi nhỏ Di Tân chê họ nói tiếng Đông Nguyên không chuẩn, lại hay chạy nhảy lung tung, không thích chơi với họ. Hai huynh đệ không còn cách nào khác, cứ thế đuổi theo, đuổi đến mức Di Tân phải leo nóc nhà, xuống tường cung, chỉ thiếu nước cưỡi ngựa chạy trốn.
Ba người vốn dĩ bằng mặt không bằng lòng, bị Di La nhìn thấy, mỗi đứa tặng cho một cước. Cả ba cùng bị ăn đòn, ngược lại lại trở nên thân thiết, chẳng ai thấy mất mặt nữa.
Sau này lớn hơn chút, A Ưu Thành đã là chốn đào nguyên, các tộc phía Đông vào triều kiến, thường xuyên cãi vã trước mặt Di La. Không phải ngươi cướp ngựa của ta thì là ta chiếm đất của ngươi. Di La đôi khi muốn lười biếng, liền đặt Di Tân lên bàn nhỏ, còn mình thì lăn ra thảm lông ngủ khò.
Hồi Di Tân còn chưa biết mấy chữ bẻ đôi đã dám đứng ra phán xử tạp sự cho các bộ. Hắn ngồi xếp bằng trên bàn nhỏ, một bên tai là tiếng ngáy như sấm dậy của phụ thân mình, một bên tai là tiếng các tù trưởng gào thét "Cừu của ngươi, ngựa của ta". Ngựa với cừu thì Di Tân còn tính toán rạch ròi được, nhưng về sau liên quan đến ân oán thù sát giữa các bộ thì hắn không hiểu nữa. Lúc này Di La sẽ xách hai huynh đệ Long Tường, Long Sơn như hai con bê con đặt vào hai bên cạnh hắn.
Di Tân dạy hai huynh đệ họ tiếng Đông Nguyên, còn hai huynh đệ họ dạy Di Tân ngôn ngữ các bộ. Cứ thế mười mấy năm trôi qua, ba người họ tuy không phải huynh đệ ruột thịt nhưng còn thân thiết hơn cả ruột thịt. Giờ đây thủ cấp của Long Tường cũng nằm trong bảo hạp của Di Tân, huynh ấy chính là người huynh đệ mà hắn đã tự tay giết chết.
"Thái tử." Long Sơn nói: "Cái thằng nhóc kia mắt la mày lém, cứ nhìn trộm về phía chúng ta suốt."
Di Tân ghét ánh nắng, hắn cứ thế vén màn xe, tùy miệng hỏi: "Thằng nhóc nào?"
Long Sơn dùng roi ngựa chỉ về một hướng: "Cái thằng đó, chính là nó."
Di Tân nhìn qua, là một thằng nhóc ngốc nghếch tướng mạo bình thường, tên là Tiểu Khuyển gì đó. Ánh mắt hắn hơi dời đi, rồi khựng lại, va phải một người khác.
Sát Tước hôm nay rửa mặt rất sạch sẽ, đang lười nhác trong hàng ngũ. Hắn cứ hễ phơi nắng là lại trở nên nổi bật hẳn lên, khiến đám "Sâm La quỷ" xung quanh mặt mũi lấm lem, như thể cả lũ chưa hề tắm rửa. Uất Trì Lương lại đang huấn thị cho bọn họ, ánh mắt Sát Tước lúc nãy vừa lơ đãng, nhìn một cái là biết tâm trí không đặt ở đây.
Cái tên này.
Di Tân không muốn đối mắt với Sát Tước, y dời mắt đi nhưng tên thích khách kia vẫn đang nhìn y. Y định quay vào trong xe, nhưng một lát sau lại đổi ý, quyết định phải cho Sát Tước nếm chút lợi hại, thế là y dời ánh mắt trở lại.
Sát Tước đang nhìn Di Tân, mà cũng như không nhìn Di Tân. Lời của Uất Trì Lương lọt vào tai này rồi lại trôi tuột ra tai kia, trong đầu hắn chỉ có một ý nghĩ duy nhất:
Đường đến Sâm La sao mà dài thế, cái xe của tên đáng ghét này thật là to quá đi.
💬 Bình Luận Chương Này